27. Sớ Cúng Bà Ngoại

(Nghĩa Thiên Quảng Bị)

 

Nguyên văn:

 

伏以

義天廣被、慈雲彌布三千、智地普擎、法雨潤滋沙界。疏爲越南國...省...縣[]...社...村、家堂奉

修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干

大覺能仁、俯垂炤鑒。

奉爲...之香靈。仝承

佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、成因德重、懷思女族之恩、坦腹深情、痛念妻居之敏、老年倐忽、神離東土之緣、晩景俄臾、日落西山之後、

大雄救、能生忉利之宮、聖力冥扶、不入邪魔之境。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏

南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。

南無接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。

南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、一靈頓悟、能令三業冰消、四智圓明、可使十纒雪化、紫金臺上、常聞功德之香、白玉階前、咸受醍醐之味。寔賴

佛恩證明之不可思議也。謹疏。

佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Nghĩa thiên quảng bị, từ vân di bố tam thiên; trí địa phổ kình, pháp vũ nhuận tư sa giới.

Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám.

Phụng vị … chi hương linh.

Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Thiết niệm: Thành nhân đức trọng, hoài tư nữ tộc chi ân; thản phục1 thâm tình, thống niệm thê cư chi mẫn; lão niên thúc hốt,2 thần ly Đông Độ3 chi duyên; vãn cảnh nga du, nhật lạc Tây sơn chi hậu; Đại Hùng cứu bạt, năng sanh Đao Lợi4 chi cung; thánh lực minh phò, bất nhập tà ma chi cảnh. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu:

Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.

Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.

Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.

Phục nguyện: Nhất linh đốn ngộ, năng linh Tam Nghiệp băng tiêu; Tứ Trí viên minh, khả sử Thập Triền tuyết hóa; Tử Kim đài thượng, thường văn công đức chi hương; Bạch Ngọc giai tiền, hàm thọ Đề Hồ chi vị. Thật lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.

Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

Nghĩa trời trùm khắp, mây từ che cõi trần gian; đất trí rộng nương, mưa pháp thấm nhuần tất cả.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:

Hương linh ...

Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.

Xót nghĩ: Nhân thành đức nặng, nhớ hoài người nữ công ơn; kén rễ tình sâu, xót nghĩ vợ con cần mẫn; tuổi già chợt đến, hồn lìa cõi tạm trần duyên; chiều cảnh thoáng qua, trời rụng núi Tây sau hút; Đại Hùng cứu độ, được sanh Đao Lợi Thiên cung; sức Thánh ngầm ban, chẳng nhập tà ma cảnh giới. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:

Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.

Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.

Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.

Lại nguyện: Một linh đốn ngộ, khiến cho Ba Nghiệp tiêu tan; Bốn Trí sáng tròn, khéo khiến Mười Triền rơi rụng; trên đài vàng tía, thường nghe công đức hương thơm; ngọc trắng trước thềm, đều thọ Đề Hồ pháp vị. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

 

Phần chú thích:

  1. Thản phục (坦腹): để lộ bụng ra thấy rốn, nằm phơi bụng. Trong Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Nhã Lượng (雅量) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều có đoạn: “Khích Thái Phó tại kinh khẩu, khiển môn sinh dữ Vương Thừa Tướng thư, cầu nữ tế. Thừa Tướng ngữ Khích Tín: ‘Quân vãng đông sương, nhậm ý tuyển chi.’ Môn sinh quy bạch Khích viết: ‘Vương gia chư lang diệc giai khả hỷ.’ Văn lai mích tế, hàm tự căng trì, duy hữu nhất lang tại đông sàng thượng thản phục ngọa, như bất văn. Khích công vân: ‘Chánh thử hảo.’ Phỏng chi, nãi thị dật thiểu, nhân giá nữ dữ yên (郄太傅在京口遣門生與王丞相書求女壻。丞相語郄信:君徃東廂、任意選之。門生歸白郄曰:王家諸郎亦皆可嘉。聞來覓壻、咸自矜持、唯有一郎在東牀上坦腹臥、如不聞。郄公雲:正此好、訪之、乃是逸少、因嫁女與焉, khi Khích Thái Phó đang ở kinh đô, sai môn sinh đem thư đến cho Vương Thừa Tướng cầu kén rễ. Thừa Tướng bảo Khích Tín rằng: ‘Ngươi cứ qua bên nhà đông, tùy ý chọn lựa.’ Môn sinh trở về thưa lại với Khích Thái Phó rằng: ‘Các chàng trai của vương gia cũng đều có thể vui mừng thuận theo.’ Nghe vậy, ông bèn đến xem mặt chàng rễ, ai ai cũng háo hức chờ đợi, duy chỉ có một chàng nằm phơi bụng thản nhiên trên giường phía đông, như thể chẳng nghe thấy gì cả. Khích Thái Phó bảo: ‘Quả đúng người nầy rồi !’ Hỏi ra mới biết chàng ta là người sống ít ham muốn, do đó ông gả con gái cho anh ta).” Từ đó, xuất hiện từ “đông sàng thản phục (東牀坦腹)” hay “thản phục đông sàng (坦腹東牀)”, được dùng dể chỉ cho người chồng của con gái mình, tức chú rễ. Như trong Tùy Đường Diễn Nghĩa (隋唐演義) hồi thứ 6 của Trử Nhân Hoạch (褚人獲, ?-?) nhà Thanh, có đoạn rằng: “Ngã thị Lý phủ trung tiểu thư đích bảo mẫu, nhân lão gia, phu nhân yếu sính công tử đông sàng thản phục, đản ngã gia tiểu thư … thệ nguyện giá nhất cá thiện võ năng văn, túc trí đa mưu đích kỳ nam tử (我是李府中小姐的保母因老爺夫人要聘公子東牀坦腹但我家小姐誓願嫁一個善武能文足智多謀的奇男子, tôi là bảo mẫu của tiểu thư trong phủ họ Lý; nhân lão gia và phu nhân cần kén chàng rễ công tử, nhưng tiểu thư nhà tôi … lại thề nguyện lấy một chàng trai đặc biệt khéo võ nghệ, giỏi văn chương, túc trí đa mưu).”
  2. Thúc hốt (倐忽): trong chớp nhoáng, trong thoáng chốc, chỉ thời gian biến chuyển nhanh đến nỗi không thể lường được. Như trong Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (潙山大圓禪師警策) của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐, 771-853) có đoạn: “Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô, ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu (譬如春霜曉露倐忽卽無岸樹井藤豈能長久, ví như sương mùa xuân, móc buổi sáng, cây bên bờ, dây leo ở giếng, làm sao bền lâu ?).” Hay như trong Khổng Triều Bá Ca (孔廟柏歌) của Hồ Kỳ Nghị (胡其毅, ?-?) nhà Minh có câu: “Lễ nhạc sơ truyền tam bách tải, phong trần thúc hốt câu thiên cải (禮樂初傳三百載風塵倐忽俱遷改, lễ nhạc mới truyền ba trăm năm, gió bụi thoáng chốc đều biến đổi).” Câu “lão niên thúc hốt (老年倐忽)” có nghĩa là trong thoáng chốc tuổi già lại đến.
  3. Đông Độ (東土): vùng đất, đất nước, địa phương ở phía Đông, tức Trung Hoa; là từ dùng đối với Tây Thiên (西天), tức Ấn Độ. Trong Truyền Đăng Lục (傳燈錄) 18, chương Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃) có đoạn: “Sư viết: ‘Đạt Ma bất lai Đông Độ, Nhị Tổ bất vãng Tây Thiên’ (師曰、達磨不來東土、二祖不徃西天, sư nói: ‘Đạt Ma không đến Đông Độ, Nhị Tổ chẳng về Tây Thiên’).” Hay như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 53 cũng có câu: “Tây Thiên cầu pháp, Đông Độ dịch kinh (西天求法東土譯經, cầu pháp nơi Ấn Độ, dịch kinh tại Trung Hoa).” Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂, 807-883), vị tăng của Quy Ngưỡng Tông (潙仰宗), có danh hiệu là “Đông Độ Tiểu Thích Ca (東土小釋迦, Thích Ca Nhỏ Của Trung Hoa).” Trong Thiền Tông, thường có từ “Đông Độ Lục Tổ (東土六祖)”, tức 6 vị tổ sư của Trung Hoa, gồm Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨, 470-543) là sơ tổ cho đến Huệ Khả (慧可, 487-593), Tăng Xán (僧璨, ?-606), Đạo Tín (道信, 580-651), Hoằng Nhẫn (弘忍, ?-?) và Huệ Năng (慧能, 638-713). Ngoài ra, từ Đông Độ còn có nghĩa là cõi Ta Bà đầy đau khổ, ô nhiễm nầy; Tây Thiên là thế giới thanh tịnh, giải thoát của chư Phật; cho nên có câu ngạn ngữ tán dương công hạnh xả thân thỉnh kinh, cầu pháp của Đại Sư Huyền Trang (玄奘, 602-664) rằng: “Ninh hướng Tây Thiên nhất bộ tử, bất hướng Đông Độ nhất bộ sanh (寧向西天一步死不向東土一步生, thà hướng Tây Thiên một bước chết, chẳng hướng Đông Độ một bước sống).” Câu “thần ly Đông Độ chi duyên, vãn cảnh nga du, nhật lạc Tây sơn chi hậu (神離東土之緣、晩景俄臾、日落西山之後)” có nghĩa là thần hồn hết duyên rời khỏi cõi đời, cảnh chiều chợt đến trong thoáng chốc và mặt trời rụng sau núi Tây.

Đao Lợi (s: Trāyastriśa, p: Tāvatiṃsa, ): tức Đao Lợi Thiên (忉利天, Trời Đao Lợi), âm dịch là Đa La Dạ Đăng Lăng Xá (多羅夜登陵舍), còn gọi là Tam Thập Tam Thiên (三十三天, Trời Thứ Ba Mươi Ba). Theo vũ trụ quan Phật Giáo, cõi trời nầy nằm ở tầng thứ 2 của 6 cõi trời Dục Giới, là thiên giới do Trời Đế Thích (帝釋天) cư ngụ, ở trên đỉnh núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山). Bốn phương trên đỉnh Tu Di có 8 thành trời, cọng thêm ở giữa có Thiện Kiến Thành (善見城, hay Hỷ Kiến Thành [喜見城]) của Trời Đế Thích), tổng cọng là 33 trú xứ, nên có tên gọi như vậy. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 25, 33 cõi trời có các tên gọi khác nhau, gồm: Trú Thiện Pháp Đường Thiên (住善法堂天), Trú Phong Thiên (住峯天), Trú Sơn Đảnh Thiên (住山頂天), Thiện Kiến Thành Thiên (善見城天), Bát Tư Địa Thiên (鉢私地天), Trú Câu Tra Thiên (住倶吒天), Tạp Điện Thiên (雜殿天), Trú Hoan Hỷ Viên Thiên (住歡喜園天), Quang Minh Thiên (光明天), Ba Lợi Da Đa Thọ Viên Thiên (波利耶多樹園天), Hiểm Ngạn Thiên (岸天), Trú Tạp Hiểm Ngạn Thiên (住雜岸天), Trú Ma Ni Tạng Thiên (住摩尼藏天), Toàn Hành Địa Thiên (行地天), Kim Điện Thiên (金殿天), Man Ảnh Xứ Thiên (鬘影處天), Trú Nhu Nhuyễn Địa Thiên (住柔軟地天), Tạp Trang Nghiêm Thiên (雜莊嚴天), Như Ý Địa Thiên (如意地天), Vi Tế Hành Thiên (微細行天), Ca Âm Hỷ Lạc Thiên (歌音喜樂天), Uy Đức Luân Thiên (威德輪天), Nguyệt Hành Thiên (月行天), Diêm Ma Bà La Thiên (閻魔婆羅天), Tốc Hành Thiên (速行天), Ảnh Chiếu Thiên (影照天), Trí Tuệ Hành Thiên (智慧行天), Chúng Phân Thiên (衆分天), Trú Luân Thiên (住輪天), Thượng Hành Thiên (上行天), Uy Đức Nhan Thiên (威德顔天), Uy Đức Diệm Luân Thiên (威德燄輪天), và Thanh Tịnh Thiên (清淨天). Chúng hữu tình trên cõi trời Đao Lợi có thân dài một do tuần, thọ mạng 1.000 tuổi (100 năm trên cõi thế bằng 1 ngày 1 đêm trên cõi trời nầy), ăn các thức ăn trong sạch. Khi mới sanh ra, con người ở đây giống như hình dạng đứa bé 6 tuổi của cõi người, sắc diện tròn đầy, áo quần tự có. Hơn nữa, cõi trời nầy có đầy đủ các loại châu báu, những lầu đài, trang viên, hồ tắm tráng lệ, v.v. Từ xưa, tín ngưỡng cho rằng Đao Lợi Thiên là trú xứ của Trời Đế Thích, đã thịnh hành tại Ấn Độ. Tương truyền sau khi qua đời, Hoàng Hậu Ma Da thác sanh lên cõi trời nầy; cho nên, sau khi thành đạo, đức Phật đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân trong vòng 3 tháng. Sự việc nầy được ghi lại rất rõ trong Phật Thăng Đao Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp Kinh (佛昇忉利天爲母說法經, Taishō No. 815), hay trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412), Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (忉利天宮神通品). Bên cạnh đó, trong Phật Quốc Ký (佛國記) của Pháp Hiển (法顯, 340?-?) nhà Tấn có câu: “Phật thướng Đao Lợi Thiên tam nguyệt, vị mẫu thuyết pháp (佛上忉利天三月爲母說法, đức Phật lên cung Trời Đao Lợi ba tháng, vì mẹ thuyết pháp).” Hay như trong Trường Sanh Điện (長生殿), phần Bổ Hận (補恨) của Hồng Thăng (洪昇, 1645-1704) nhà Thanh lại có đoạn: “Ngã đương thượng tấu Thiên Đình, sử nhĩ lưỡng nhân thế cư Đao Lợi Thiên trung, vĩnh viễn thành song, dĩ bổ tùng tiền ly biệt chi hận (我當上奏天庭使你兩人世居忉利天中永遠成雙以補從前離別之恨, ta sẽ tâu lên Thiên Đình, giúp hai ngươi được sống trong cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn được thành đôi lứa, để bù vào nỗi hận cách biệt trước kia).” Ngoài ra, trong bài Tần Châu Thiên Thủy Quận Mạch Tích Nhai Phật Kham Minh (秦州天水郡麥積崖佛龕銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Ảnh hiện Tu Di, hương văn Đao Lợi (影現須彌香聞忉利, ảnh hiện Tu Di, hương nghe Đao Lợi).”